Chào mừng quý vị đến với Website của Phạm Hồng Thư - Art .
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Hồng Thư (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:03' 14-04-2009
Dung lượng: 94.0 KB
Số lượt tải: 25
Nguồn:
Người gửi: Phạm Hồng Thư (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:03' 14-04-2009
Dung lượng: 94.0 KB
Số lượt tải: 25
Số lượt thích:
0 người
Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh - Người xây nền cho tranh lụa Việt Nam!
Hoạ sĩ Việt nam lỗi lạc Nguyễn Phan Chánh (1892- 1984) xuất thân từ một gia đình trí thức nông thôn. Ông nội của ông đã thi đỗ tú tài xuất sắc và làm nghề dạy học trong làng (ở Việt Nam thời phong kiến, làng quê chính là trung tâm văn hoá, nơi cung cấp cho thành phố những thanh niên có học để bổ sung cho bộ máy quan lại). Bố ông làm nghề kế toán. Nhưng người bố mất sớm, và thế là gia đình rơi vào cảnh nghèo khổ. Cậu bé buộc phải bỏ học. Người mẹ đành phải cho con đi theo một hoạ sĩ lang thang, dù sao đi nữa thì nhà cũng đỡ được một miệng ăn. Thoạt đầu, Chánh được giao nhiệm vụ chuẩn bị giấy vẽ. Phải phết hồ thật đều lên mặt giấy, rồi dán một tờ khác lên nó, miết thật cẩn thận cho không khí thoát hết ra ngoài, để bức tranh tương lai không bị phồng rộp. Một thời gian sau, cậu được cầm cọ tô những mảng màu thích hợp trên bức tranh mà sư phụ đã chuẩn bị sẵn. Đó là một công việc không hề nhẹ nhàng: cần phải tuân thủ quang độ cần thiết của ánh sáng, chọn đúng tông màu thích hợp, đưa những nét bút dứt khoát và khỏe khoắn. Cuối cùng, cậu được phép làm tất cả mọi việc từ đầu đến cuối. Suốt đời mình, không bao giờ Chánh quên lần sư phụ đã lấy bức tranh “Lý ngư vọng nguyệt” mà ông vẽ theo phong cách tranh dân gian, treo bên cạnh những bức tranh của ông ấy, để bày bán...
Những bài học của người hoạ sĩ lang thang thật chẳng vô ích. Trở về nhà, Chánh hiểu rằng cậu có thể đóng góp một phần nhỏ vào ngân sách gia đình. Không phải ngẫu nhiên mà những bước chập chững đầu tiên trong “hạch toán kinh doanh” của hoạ sĩ được bắt đầu từ việc vẽ tranh dân gian. Tranh dân gian được phổ biến rất rộng rãi ở làng quê Việt Nam. Loại tranh này đã xuất hiện từ thời xa xưa - khoảng thế kỉ 11 - 13 và phát triển mạnh mẽ nhất vào các thế kỉ 16 - 18. Dần dần hình thành hai truyền thống là tranh làng Đông Hồ (tỉnh Bắc Ninh) và tranh Hà Nội (còn gọi là tranh Hàng Trống). Ở Hà Nội tranh đươc vẽ tay, hoặc in đen trắng rồi sau đó mới tô màu. Còn ở làng Đông Hồ thì phổ biến nhất là in bằng ván khắc gỗ. Màu sắc được pha chế từ nguyên liệu tự nhiên dễ kiếm và rẻ tiền trong vùng: tro đốt từ lá tre, tro rơm (màu đen), vỏ trai tán nhỏ (màu trắng), hoa dành dành (màu vàng), rỉ đồng (màu xanh lá cây) v.v... Màu sắc chủ yếu của tranh dân gian Việt Nam chính là những màu sắc truyền thống của làng quê Việt Nam: màu vàng của lúa chín, màu xanh của mạ, mùa đỏ của ngô chín, màu nâu của đất cày... Các tông khác nhau của màu đỏ tương ứng với những mùa hoa sặc sỡ của thiên nhiên miền nhiệt đới. Có thể phân biệt các màu đỏ như: màu mận chín, màu cánh sen, màu hoa đào... Có ba màu được hình thành bằng cách trộn lẫn những màu chủ yếu: mận chín trộn với màu huyết dụ thành màu chu sa (đỏ son), chu sa pha với màu đen sẽ được màu nâu cánh kiến, xanh pha với vàng sẽ cho màu cây lê. Người ta pha màu bằng hồ nấu bằng bột gạo cho thêm vôi và phèn chua. Thông thường, khổ một bức tranh là 22 x 30 cm. Chánh rất say mê những màu sắc trong sáng, đơn sơ mà tươi vui một cách đặc biệt và hình thức tròn trĩnh trong cách thể hiên sự vật, cũng như bố cuc đơn giản đến mức kinh ngạc, sự thong dong và mềm mại của các bức tranh dân gian này. Chủ đề ưa chuộng là: những sự kiện lịch sử trọng đại, các truyền thuyết, hoặc các hiện tượng trong cuộc sống thường ngày Khát vọng học tập đã đưa Chánh tới thành phố, nơi có những trường Pháp - Việt vừa được mở. Tại đây, ông đã tích cực học tiếng Pháp và sau khi tốt nghiệp xuất sắc, ông được phân về một huyện làm phụ giảng. Thế nhưng lòng say mê hội hoạ của ông không hề suy giảm. Năm 1925, khi Trường cao đẳng mỹ thuật được mở tại Hà Nội, người duy nhất trong số hàng trăm thí sinh miền Trung trúng tuyển là chàng thanh niên 33 tuổi Nguyễn Phan Chánh. Ở độ tuổi đã trưởng thành, không phải Chánh đã không do dự trước một bước ngoặt như vậy trong đời mình. Ông phải nuôi mẹ và vợ, mà hội hoạ lại không phải là nghề đem lại nhiều lợi nhuận vật chất. Ở đây cần phải nhấn mạnh một điều rằng, đến thời kì này, nền hội hoạ Pháp đã tiếp nhận
Hoạ sĩ Việt nam lỗi lạc Nguyễn Phan Chánh (1892- 1984) xuất thân từ một gia đình trí thức nông thôn. Ông nội của ông đã thi đỗ tú tài xuất sắc và làm nghề dạy học trong làng (ở Việt Nam thời phong kiến, làng quê chính là trung tâm văn hoá, nơi cung cấp cho thành phố những thanh niên có học để bổ sung cho bộ máy quan lại). Bố ông làm nghề kế toán. Nhưng người bố mất sớm, và thế là gia đình rơi vào cảnh nghèo khổ. Cậu bé buộc phải bỏ học. Người mẹ đành phải cho con đi theo một hoạ sĩ lang thang, dù sao đi nữa thì nhà cũng đỡ được một miệng ăn. Thoạt đầu, Chánh được giao nhiệm vụ chuẩn bị giấy vẽ. Phải phết hồ thật đều lên mặt giấy, rồi dán một tờ khác lên nó, miết thật cẩn thận cho không khí thoát hết ra ngoài, để bức tranh tương lai không bị phồng rộp. Một thời gian sau, cậu được cầm cọ tô những mảng màu thích hợp trên bức tranh mà sư phụ đã chuẩn bị sẵn. Đó là một công việc không hề nhẹ nhàng: cần phải tuân thủ quang độ cần thiết của ánh sáng, chọn đúng tông màu thích hợp, đưa những nét bút dứt khoát và khỏe khoắn. Cuối cùng, cậu được phép làm tất cả mọi việc từ đầu đến cuối. Suốt đời mình, không bao giờ Chánh quên lần sư phụ đã lấy bức tranh “Lý ngư vọng nguyệt” mà ông vẽ theo phong cách tranh dân gian, treo bên cạnh những bức tranh của ông ấy, để bày bán...
Những bài học của người hoạ sĩ lang thang thật chẳng vô ích. Trở về nhà, Chánh hiểu rằng cậu có thể đóng góp một phần nhỏ vào ngân sách gia đình. Không phải ngẫu nhiên mà những bước chập chững đầu tiên trong “hạch toán kinh doanh” của hoạ sĩ được bắt đầu từ việc vẽ tranh dân gian. Tranh dân gian được phổ biến rất rộng rãi ở làng quê Việt Nam. Loại tranh này đã xuất hiện từ thời xa xưa - khoảng thế kỉ 11 - 13 và phát triển mạnh mẽ nhất vào các thế kỉ 16 - 18. Dần dần hình thành hai truyền thống là tranh làng Đông Hồ (tỉnh Bắc Ninh) và tranh Hà Nội (còn gọi là tranh Hàng Trống). Ở Hà Nội tranh đươc vẽ tay, hoặc in đen trắng rồi sau đó mới tô màu. Còn ở làng Đông Hồ thì phổ biến nhất là in bằng ván khắc gỗ. Màu sắc được pha chế từ nguyên liệu tự nhiên dễ kiếm và rẻ tiền trong vùng: tro đốt từ lá tre, tro rơm (màu đen), vỏ trai tán nhỏ (màu trắng), hoa dành dành (màu vàng), rỉ đồng (màu xanh lá cây) v.v... Màu sắc chủ yếu của tranh dân gian Việt Nam chính là những màu sắc truyền thống của làng quê Việt Nam: màu vàng của lúa chín, màu xanh của mạ, mùa đỏ của ngô chín, màu nâu của đất cày... Các tông khác nhau của màu đỏ tương ứng với những mùa hoa sặc sỡ của thiên nhiên miền nhiệt đới. Có thể phân biệt các màu đỏ như: màu mận chín, màu cánh sen, màu hoa đào... Có ba màu được hình thành bằng cách trộn lẫn những màu chủ yếu: mận chín trộn với màu huyết dụ thành màu chu sa (đỏ son), chu sa pha với màu đen sẽ được màu nâu cánh kiến, xanh pha với vàng sẽ cho màu cây lê. Người ta pha màu bằng hồ nấu bằng bột gạo cho thêm vôi và phèn chua. Thông thường, khổ một bức tranh là 22 x 30 cm. Chánh rất say mê những màu sắc trong sáng, đơn sơ mà tươi vui một cách đặc biệt và hình thức tròn trĩnh trong cách thể hiên sự vật, cũng như bố cuc đơn giản đến mức kinh ngạc, sự thong dong và mềm mại của các bức tranh dân gian này. Chủ đề ưa chuộng là: những sự kiện lịch sử trọng đại, các truyền thuyết, hoặc các hiện tượng trong cuộc sống thường ngày Khát vọng học tập đã đưa Chánh tới thành phố, nơi có những trường Pháp - Việt vừa được mở. Tại đây, ông đã tích cực học tiếng Pháp và sau khi tốt nghiệp xuất sắc, ông được phân về một huyện làm phụ giảng. Thế nhưng lòng say mê hội hoạ của ông không hề suy giảm. Năm 1925, khi Trường cao đẳng mỹ thuật được mở tại Hà Nội, người duy nhất trong số hàng trăm thí sinh miền Trung trúng tuyển là chàng thanh niên 33 tuổi Nguyễn Phan Chánh. Ở độ tuổi đã trưởng thành, không phải Chánh đã không do dự trước một bước ngoặt như vậy trong đời mình. Ông phải nuôi mẹ và vợ, mà hội hoạ lại không phải là nghề đem lại nhiều lợi nhuận vật chất. Ở đây cần phải nhấn mạnh một điều rằng, đến thời kì này, nền hội hoạ Pháp đã tiếp nhận
 






Các ý kiến mới nhất